Bài viết

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG VÀ NGÔN NGỮ CHO TRẺ

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG VÀ NGÔN NGỮ CHO TRẺ (Giáo dục trẻ giai đoạn từ 1-3 tuổi mà bố mẹ cần lưu ý
Theo  Ngucocansinh.com - Phần 2)

Theo nhiều nghiên cứu, các bé có khả năng phát triển cao là những bé được lớn lên trong môi trường có nhiều va chạm, được tự do vận động cơ thể và luôn tiếp xúc với ngôn ngữ trong giai đoạn từ 1-3 tuổi. Ở giai đoạn này, bé có sự tò mò, ham tìm hiểu với thế giới xung quanh, luôn muốn cơ thể hoạt động và tập nói những từ đầu đời. Vì vậy, bé cần sự giúp đỡ của bố mẹ để có thể phát triển toàn diện, về kỹ năng vận động (đi và cầm nắm) và kỹ năng nói.

Phát triển kỹ năng đi
Việc đầu tiên, cha mẹ của bé hơn 1 tuổi, là chuẩn bị tinh thần sẵn sàng cho bé được vận động tối đa. Bé có thể trèo ra khỏi nôi, hoặc chập chững bò đi trong phòng để thỏa sự háo hức của mình. Ở trường hợp này, bố mẹ không nên ngăn cấm hay la mắng, vì sẽ dập tắt lòng ham tìm hiểu của bé.

Để tạo điều kiện cho bé được tự do vận động, bố mẹ cần tôn trọng hành động của bé, và trông nom bé khỏi bị nguy hiểm. hãy cho bé ra chỗ rộng để đi bộ thật thoải mái và dần ghi nhớ kỹ năng đi bộ. Có thể cho bé đi dạo ở công viên, sân chơi, cho bé tiếp xúc với thế giới bên ngoài để phát triển thể chất và mở mang tầm nhìn của bé. Cũng nên cho bé được nhìn thấy những bạn ở cùng độ tuổi. Dù không cần phải chơi với những bạn đó, nhưng đó là cách nuôi dưỡng tính xã hội ở bé. Nên cho bé đi bộ ở ngoài hết khả năng có thể thì hơn.

2 - Phát triển kỹ năng cầm, nắm
Hãy cho bé tập cầm đồ vật vừa tay, giơ lên, hạ xuống, cầm ra chỗ được bảo…

Nếu lúc nghịch ngợm, bé có cầm kéo khăn trải bàn, làm cốc chén trên bàn rơi loảng xoảng, đổ vỡ, đó là lúc bé hiểu ra, với vật ở xa, có thể kéo lại gần để lấy; hiểu ra đồ vật rơi từ trên cao xuống có thể bị vỡ hoặc không… Không được mắng bé gay gắt vì làm vỡ đồ vật. Mẹ nên tìm chỗ cất những món đồ quý giá và để xa tầm tay bé những đồ nguy hiểm, vì ở lứa tuổi này, bé rất hiếu động và ham cầm nắm mọi vật xung quanh.

Mẹ có thể hướng dẫn bé chơi trò ném đồ vật như các thanh gỗ, que xếp hình rồi tự nhặt lại. Mẹ hãy quan sát hướng ném, tay cầm để ném, tư thế ném, độ mạnh yếu của mỗi lần ném của bé như thế nào? Có khác nhau nhiều không? Từ đó hiểu được tính cách và thể lực của bé, và bé được thỏa mãn thói quen tìm hiểu, phát triển trí tuệ, thể chất và yêu thích tiếp xúc với sự vật bên ngoài.

Ở thời gian này, bố mẹ không nên ngăn cấm bé, vì như thế sẽ làm bé thiếu tự tin và phát sinh tính tiêu cực. Bị cấm đoán, bé sẽ nảy sinh tính phản kháng, dễ nóng nảy cáu gắt. Khi muốn cấm bé làm việc gì đó, mẹ có thể tìm cách rủ bé chơi một trò chơi khác. Như vậy sẽ không có tính cưỡng ép, và thu hút sự chú ý của bé với điều mới lạ.

3 - Phát triển kỹ năng nói
3.1- Hoàn thiện khả năng thông hiểu lời nói của người lớn (nghe hiểu):

Ban đầu trẻ chỉ hiểu về tình huống khi chứng kiến tình huống cụ thể đó. Ví dụ trẻ hiểu lời nói “đánh trống” khi trẻ nhìn thấy một người đang đánh trống hoặc chính trẻ đang cầm dùi đánh vào trống. Theo đó, lời nói “đánh trống” biểu đạt cho toàn bộ tình huống này. Trẻ sẽ không thể hiểu lời nói “đánh trống” khi nó tách khỏi tình huống cụ thể.

Có thể tóm tắt khả năng thông hiểu của trẻ ở giai đoạn này như sau: Tình huống cụ thể + Lời nói = Tín hiệu hành động của trẻ.


Nên tập cho trẻ thói quen xem sách từ nhỏ là một cách hiệu quả giúp bé phát triển vốn từ vựng. 

Sự kết hợp giữa ngôn ngữ với tình huống cụ thể khi được lặp đi lặp lại nhiều lần, dần dần bé sẽ hiểu được lời nói mà không phụ thuộc vào tình huống cụ thể nữa. Vì thế người lớn có thể dùng lời nói để chỉ dẫn hành động cho các em (yêu cầu bé cầm hay lấy một đồ vật nào đó), từ đó giúp trẻ mở rộng giao tiếp với mọi người.

Việc nghe và hiểu lời nói vượt ra khỏi tình huống cụ thể là một thành tựu quan trọng của trẻ. Nó giúp bé biết sử dụng ngôn ngữ như là phương tiện cơ bản để nhận thức thế giới xung quanh.

3.2 - Ngôn ngữ tích cực

Sau 2 tuổi là thời kỳ phát triển ngôn ngữ. Trẻ không chỉ đòi hỏi biết được tên đồ vật, mà còn cố gắng phát ra các âm để gọi tên các đồ vật đó. 

Vốn từ của trẻ qua từng giai đoạn:

- Từ cuối năm thứ 2, các em nói được 300 đến 400 từ. Trẻ lên 2 thường nói ngọng, ngôn ngữ của bé khá khác của người lớn, ví dụ “ăn”, thì nói là “măm”, “thịt” thành “xịt”… Người ta gọi ngôn ngữ đó là ngôn ngữ tự trị. Sở dĩ trẻ nói như thế là do nhiều nguyên nhân: Người lớn thích nói vậy khi âu yếm trẻ, do các em nghe không chuẩn nên phát âm bị méo tiếng, hoặc do vốn từ của trẻ còn nghèo nàn nên phải tự nghĩ ra một số từ để giao tiếp với người lớn...

- Cuối năm thứ ba, trẻ nói được khoảng 1.000 từ.

3.3 - Ngữ pháp

Để diễn đạt được nguyện vọng của mình cho người lớn hiểu, trẻ phải nắm được ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ. Lúc đầu, trẻ dùng câu một tiếng, ví dụ “măm măm” tức là “Mẹ cho con ăn”. Sau đó trẻ dùng câu hai tiếng theo mô hình chủ ngữ –vị ngữ, ví dụ “mẹ bế”, “mẹ xúc”, cũng có lúc trẻ nói ngược “bế mẹ”.

Đến 3 tuổi, ngôn ngữ tích cực của trẻ phát triển mạnh mẽ, bé rất thích nói và nói suốt ngày. Thế mới có câu “Trẻ lên 3 cả nhà học nói”. Lúc này, các em đã nói được những câu dài như “Con khóc vì ba mắng con”, “Ai hư thì không được phiếu bé ngoan”.

Một số lưu ý trong quá trình dạy nói cho trẻ:

- Cần dạy trẻ nói đúng và sửa sai cho bé thì ngôn ngữ tự trị sẽ mất đi nhanh chóng.

- Gia đình nên tập nói thường xuyên cho trẻ, tạo cơ hội để trẻ tiếp xúc nhiều sự vật, hiện tượng, tình huống để tăng vốn từ vựng.

- Nên đọc sách báo cho trẻ nghe, từ đó giúp các em hình thành thói quen thích đọc sách từ nhỏ.việc chăm sóc và nuôi dạy con trẻ nhé.
 

Chia sẻ:

Bài viết cùng danh mục

Ngũ Cốc An Sinh | Ngũ Cốc Mẹ Bầu | Ngũ Cốc Lợi Sữa | Ngũ Cốc Trẻ Em | Ngũ Cốc Người Già | Ngũ Cốc Tăng Cân | Ngũ Cốc Giảm Cân | Ngũ Cốc Ăn Sáng | Ngũ Cốc Ăn Chay | Ngũ Cốc Dưỡng Sinh